Chuẩn bị xây 3 đường cao tốc đi qua Đồng Nai

Thẩm định giá máy móc thiết bị - Phương pháp thu nhập (Phương pháp đầu tư) - Phần 3

Chuẩn bị xây 3 đường cao tốc đi qua Đồng Nai
Ngày đăng: 23-11-2015
2,051 lượt xem

THẨM ĐỊNH GIÁ MÁY MÓC THIẾT BỊ
PHƯƠNG PHÁP THU NHẬP (PHƯƠNG PHÁP ĐẦU TƯ) - PHẦN 3

6. Phương pháp xác định kỹ thuật dòng tiền chiếc khấu (DCF)

    6.2. Phương pháp suất sinh lợi nội tại hay tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR)

        6.2.1. Khái niệm
            Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ đo lường tỷ lệ sinh lời của một phương án đầu tư và nó cũng được sử dụng để đánh giá phương án đầu tư.

        6.2.2. Lựa chọn phương án, đánh giá phương án

            * Lựa chọn phương án:
                - Trường hợp các phương án độc lập lẫn nhau nếu một phương án đầu tư độc lập về mặt kinh tế với các phương án đầu tư khác thì việc chấp nhận hay loại bỏ một phương án đầu tư sẽ phụ thuộc vào IRR của phương án đó
                - Trường hợp các phương án loại trừ lẫn nhau thì sẽ chọ phương án nào có IRR>r và lớn nhất.
            Từ đó ta có sự tương quan:
                - Khi tỷ lệ chiết khấu r=IRR thì NPV=0
                - Khi tỷ lệ chiết khấu r<IRR thì NPV>0
                - Khi tỷ lệ chiết khấu r>IRR thì NPV<0

            * Đánh giá phương án đầu tư:
                - IRR>r: Chấp nhận phương án
                - IRR=r: Việc chấp nhận hay loại bỏ phương án tùy theo quan điểm của chủ doanh nghiệp.
                - IRR<r: Loại bỏ dự án (r là chi phí sử dụng vốn)
            Nếu phương án đầu tư có tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) bằng với chi phí sử dụng vốn (r) thì các khoản thu nhập từ phương án chỉ đủ để hoàn trả phần vốn gốc đã đầu tư vào phương án và trả lãi (tức là phương án hoặc NPV=0)

        6.2.3. Ưu, nhược điểm của IRR

            * Ưu điểm:
                - Quyết định chấp thuận hay từ chối đối với các dự án độc lập phù hợp với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông.
                - Đo lường bằng tỷ lệ % nên dễ dàng so sánh với chi phí sử dụng vốn.

            * Nhược điểm:
                - Không đo lường trực tiếp ảnh hưởng của một dự án đối với lợi nhuận của cổ đông.
                - Dễ tạo ra sự ngộ nhận rằng thu nhập của dự án có thể được tái đầu tư với tỷ lệ sinh lời = IRR (tỷ lệ hoàn vốn).
                - Xếp hạn các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hóa thu nhập của cổ đông.

            Lưu ý: Trường hợp chọn một trong nhiều phương án loại trừ nhau mà có quy mô đời sống kinh tế khác nhau thì có thể xảy ra sự xung đột giữa NPV và IRR. Khi đó người ta có thể kết hợp các phương pháp khác để xem xét.

        6.2.4. Công thức
            Về mặt tính toán thì IRR của một phương án đầu tư là lãi suất chiết khấu mà tại đó NPV của phương án đầu tư =0. IRR khác r có thể tìm bằng phương pháp khử dần.
                - Chọn ngẫu nhiên r1 sao cho NPV1>0
                - Chọn ngẫu nhiên r2 sao cho NPV2<0

            Giá trị NPV1 và NPV2 càng gần giá trị 0 thì độ chính xác của IRR càng cao. Chúng ta có thể tính được giá trị gần đúng của IRR theo công thức:

    6.3. So sánh phương pháp NPV và IRR

7. Hạn chế và điều kiện yêu cầu

    7.1. Hạn chế
        Đòi hỏi phải có sự am tường về nghề chuyên môn và những hiểu biết sâu về đầu tư và quản trị dự án. Những rủi ro tiềm ẩn của dự án trong tương lai cần được nghiên cứu, đánh giá, nếu không dự tính được thì hiệu quả của dự án trong thực tế có thể không đạt được như tính toán, dẫn đến hậu quả xấu với nhà đầu tư, không thu hồi vốn được như dự tính.

    7.2. Yêu cầu
        Khi sử dụng phương pháp này phải có đủ trình độ, khả năng thực hiện dự báo về thị trường nguyên vật liệu dùng cho sản xuất, thì trường sản phẩm, biến động về giá cả, doanh thu của dự án tương đối chính xác, qua đó đưa ra đánh giá về hiệu quả hoạt động của dự án trong tương lai. Đồng thời phải am hiểu về quản trị dự án.

Thamdinhgiadongnai.vn  
*Trích từ: Tài liệu bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn chuyên ngành thẩm định giá của Cục quản lý giá - Bộ Tài chính

Tin liên quan

Bình luận (0)


Gửi bình luận của bạn

Captcha

Tìm