Chuẩn bị xây 3 đường cao tốc đi qua Đồng Nai

Thẩm định giá doanh nghiệp - Các yếu tố cần được xem xét, phân tích khi thẩm định giá Doanh nghiệp (Phần 3)

Chuẩn bị xây 3 đường cao tốc đi qua Đồng Nai
Ngày đăng: 31-05-2016
5,400 lượt xem

Chuyên Đề 6
THẨM ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHỆP

Chương II
CÁC YẾU TỐ CẦN ĐƯỢC XEM XÉT, PHÂN TÍCH KHI
THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP

II. MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG DOANH NGHIỆP

    2. Quản trị doanh nghiệp
        Một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc quản trị doanh nghiệp. Thẩm định viên cần đánh giá việc quản trị doanh nghiệp trên các mặt sau: loại hình doanh nghiệp; cơ cấu tổ chức; công nghệ, thiết bị hiện tại của doanh nghiệp và nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Đây là cơ sở để hình thành giá trị của doanh nghiệp.

        2.1. Đánh giá loại hình doanh nghiệp
            Các loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
            Thẩm định viên cần đánh giá chiến lược lựa chọn loại hình doanh nghiệp có phù hợp với yêu cầu phát triển của doanh nghiệp hay không và chuyển đổi loại hình sở hữu của doanh nghiệp có phù hợp với các quy luật phát triển của doanh nghiệp hay không. Điều này cũng tác động đến cơ cấu giá trị vốn chủ sở hữu và giá trị doanh nghiệp.

        2.2. Đánh giá cơ cấu tổ chức doanh nghiệp
            Tổ chức là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của tổ chức sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung của doanh nghiệp.

            Tổ chức có nội dung rất rộng liên quan đến công tác xây dựng một doanh nghiệp như:
                - Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp: Có bao nhiêu cấp quản lý, tổ chức các phòng ban chức năng, phân công trách nhiệm và quyền hạn của phòng ban cũng như của mỗi cá nhân...
                - Xây dựng hệ thống sản xuất và kinh doanh: Có những bộ phận sản xuất kinh doanh nào, phân công chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận...

            Bộ máy quản trị doanh nghiệp được thiết lập ra để thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi xem xét cơ cấu tở chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, cần chú ý những nhân tố ảnh hưởng sau:
                - Môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh.
                - Mục đích, chức năng hoạt động của doanh nghiệp.
                - Quy mô của doanh nghiệp.
                - Các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ sản xuất
                - Trình độ của người quản lý, nhân viên và trang thiết bị quản lý.
                - Một số yếu tố khác: các quy định của pháp luật, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp, thị trường của doanh nghiệp...

        2.3. Đánh giá công nghệ thiết bị của doanh nghiệp
            Đánh giá công nghệ thiết bị của doanh nghiệp trên các mặt sau: công nghệ hiện tại của doanh nghiệp là lạc hậu hay hiện đại; công suất máy móc thiết bị của doanh nghiệp; sự tác động của công nghệ đến môi trường; chiến lược đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.

        2.4. Đánh giá nguồn nhân lực
            Nhân lực luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công của doanh nghiệp. Để đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp là tốt hay không thì thẩm địnhv iên cần đánh giá trên các mặt sau: văn hóa của doanh nghiệp thể hiện qua triết lý kinh doanh; chính sách phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp; tiềm năng nhân sự của doanh nghiệp; năng lực của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Đây là những lợi thế để hình thành nên giá trị vô hình của doanh nghiệp.

    3. Phân tích tài chính doanh nghiệp
        Phân tích tài chính doanh nghiệp là nghệ thuật xử lý các số liệu có trong các báo cáo tài chính thành những thông tin hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định.

        3.1. Tài liệu sử dụng cho việc phân tích
            Tài liệu chủ yếu sử dụng cho việc phân tích là dựa vào các báo cáo tài chính:
                a. Bản cân đối kế toán
                b. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

        3.2. Phân tích các tỷ số tài chính doanh nghiệp
            Thông qua phân tích các tỷ số tài chính, thẩm định viên có thể xác định tình hình tài chính của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại. Các tỷ số tài chính cũng tạo điều kiện cho việc so sánh “sức khỏe” của doanh nghiệp giữa các thời kỳ và so sánh với các doanh nghiệp khác hay giá trị trung bình của ngành.
            Có thể đứng trên các phương diện chủ nợ, chủ sở hữu hay các nhà quản trị của doanh nghiệp để so sánh các tỷ số tài chính với các tỷ số của ngành và với các tỷ số trong quá khứ của doanh nghiệp. Như vậy, các nhận xét và kết quả phân tích sẽ được xem xét một cách toàn diện.
           
            Để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, thẩm định viên có thể phân tích các nhóm tỷ số sau:

                - Các tỷ số thanh khoản
                - Các tỷ số hoạt động kinh doanh
                - Các tỷ số đòn cân nợ
                - Các tỷ số lợi nhuận
                - Các tỷ số giá trị doanh nghiệp

        3.2.1. Các tỷ số thanh khoản
            Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn là xem xét tài sản của doanh nghiệp có đủ trang trải các khoản nợ phải trả trong ngắn hạn không?

            a. Tỷ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
                 Tỷ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Do đó, nó đo lường khả năng trả nợ doanh nghiệp.

                * Công thức tính:
                    Tỷ số khả năng thanh toàn nợ ngắn hạn = TSLĐ và đầu tư ngắn hạn/Nợ ngắn hạn
                    Trong đó:
                         + Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn bao gồm vốn bằng tiền như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng; các khoản thanh toasnn hư các khoản phải thu, các khoản tạm ứng,... các khoản hàng tồn kho như nguyên vật liệu, công cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm,...
                        + Nợ ngắn hạn làn những khoản nợ phải trả trong một khoảng thời gian ngắn (thường là dưới 1 năm). Nó được trang trải bằng những tài sản lưu động có thể chuyển đổi thành tiền trong thời kỳ phù hợp với hạn nợ phải trả bao gồm các khoản vay ngắn hạn của ngân hàng hay các tổ chức khác, các khoản nợ dài hạn sắp đến hạn trả, các khoản phải trả người cung cấp, thuế chưa nộp cho ngân sách nhà nước, các khoản phải trả cán bộ công nhân viên,...

                * Tiêu chuẩn đánh giá
                    + Tỷ số này thường được chấp nhận ở mức:
                        1< Tỷ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn <4.
                    + Khi tỷ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn <1: Doanh nghiệp đã sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho các loại tài sản cố định.
                        Chiến lược tài trợ này đặt doanh nghiệp trước nguy cơ phá sản vì không có sự phù hợp về thời gian đáo hạn giữa nợ ngắn hạn và tài sản cố định.
                    + Thông thường tỷ số này là 2 là tốt nhất, tuy nhiên một số doanh nghiệp có tỷ số luân chuyển tài sản lưu động chỉ là >1, nhưng có thể hoạt động rất hiệu quả. Giữa 2 xí nghiệp mặc dù có tỷ số luân chuyển tài sản lưu động như nhau, nhưng điều kiện tài chính và tiến độ thanh toán các khoản nợ lại khác nhau, điều này phụ thuộc vào tài sản tồn kho.

                * Ý nghĩa:
                     + Khi giá trị của tỷ số này giảm: Khả năng trả nợ của doanh nghiệp giảm và mức độ rủi ro khánh tận tài chính gia tăng.
                Tuy nhiên, khi tỷ số này có giá trị quá cao, có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động; hay việc quản trị tài sản lưu động của doanh nghiệp không hiệu quả, vì có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hay có quá nhiều nợ phải đòi,...
                     + Trong nhiều trường hợp tỷ số này phản ánh không chính xác khả năng thanh khoản, do nhiều hàng hóa tồn kho là những loại hàng khó bán nên doanh nghiệp rất khó biến chúng thành tiền để trả nợ.

                * Nhận xét:
                    - Tỷ số này của doanh nghiệp được chấp thuận hay không tùy thuộc vào sự so sánh với giá trị trung bình ngành của ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh.
                    - Đồng thời nó cũng được so sánh với các tỷ số này của doanh nghiệp trong những năm trước đó.

Thamdinhgiadongnai.vn
*Trích từ: Tài liệu bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn chuyên ngành thẩm định giá của Cục quản lý giá - Bộ Tài chính

Tin liên quan

Bình luận (0)


Gửi bình luận của bạn

Captcha

Tìm